VOIP Bài 2: Tín hiệu cuộc gọi

Premium WordPress Themes

Tín hiệu cuộc gọi, ở mức độ cơ bản, là rất cần thiết cho hệ thống mạng điện thoại. Nó đòi hỏi khả năng tự nhận biết có một yêu cầu dịch vụ hay một ngắt kết nối. Tín hiệu cuộc gọi còn cung cấp các báo cáo về tiến độ thực hiện dịch vụ cho bên khởi xướng. Một cách tổng quát, tín hiệu cuộc gọi được chia thành ba nhóm chính như sau:

  • Supervisory signaling: tín hiệu giám sát
  • Address signaling: tín hiệu thông báo địa chỉ
  • Informational signaling: tín hiệu mang thông tin

Một cuộc gọi được thiết lập như hình minh họa, các tín hiệu giám sát, địa chỉ, thông tin là những thành phần cơ bản của tín hiệu báo. Tín hiệu giám sát (Supervisory signaling) cho biết điện thoại đang ở trạng thái nhấc máy (off hoook), tín hiệu địa chỉ xẩy ra khi người dùng quay số, và tín hiệu thông tin chính là âm báo khi người dung quay số.

Hình 2.1: Thiết lập cuộc gọi cơ bản

Hình 2.1: Thiết lập cuộc gọi cơ bản

Quá trình thiết lập cuộc gọi có thể chia thành ba bước cơ bản như sau:

  • Local Signaling phía người gọi: Người gọi nhấc máy, mạng được đóng mạch, người gọi bắt đầu quay số. Tín hiệu quay số được gửi lên tổng đài chuyển tiếp đến đầu nhận. Các tổng đài tự thiết lập các kết nối phục vụ cho cuộc gọi thông qua các trunk
  • Network Signaling: Các tổng đài nội bộ chuyển tín hiệu chạy trên truck để đến với máy đích cần gọi. Một tin nhắn thiết lập kết nối (Setup Message) được sử dụng để thiết lập các kết nối giữa các tổng đài nội bộ.
  • Local Signaling phía người nhận: Nhận được tín hiệu báo có cuôc gọi đến. Người dùng nhấc máy, nó gửi một tín hiệu báo mạch đã sẵn sàng trò chuyện lên đường Local Loop để báo cho máy gọi biết.

Tín hiệu giám sát (Supervisory Signaling)

Tín hiệu cho biết trạng thái hoạt động của điện thoại.

Hình 2.2: Tín hiệu giám sát

Hình 2.2: Tín hiệu giám sát

Có ba trạng thái cơ bản sau:

  • On Hook: Khi điện thoại gác máy xuống
  • Off Hook: Khi người dùng nhấc máy lên, chuẩn bị quay số gọi đi.
  • Ringing: Khi người dùng ở trạng thái Off Hook và có người khác gọi đến, điện thoại của người dùng nhận cuộc gọi đổ chuông báo có cuộc gọi đến.

Tín hiệu địa chỉ (Address Signaling)

Dưới đây là hai cái điện thoại. Với điện thoại thứ nhất, để quay số bạn chỉ cần bấm số, với cái thứ hai bạn phải quay vòng trục. Khi bạn quay số như vậy, tín hiệu quay số đó được gọi là  Address Signaling

Hình 2.3: Address Signaling

Hình 2.3: Address Signaling

Có hai cách khác nhau để biểu diễn cho tín hiệu quay số:

Dual-tone multifrequency (DTMF): Dùng tần số để biểu diễn cho mổi số. Với cách này, mỗi nút bấm sẽ được đại diện bởi hai dãy tần số khác nhau, một tần số cao và một tần số thấp. Khi bạn bấm một phím số, sự kết hợp giữa hai giai điệu tần số thông báo cho công ty điện thoại biết bạn gọi đi số nào.

Pulse: Sử dụng xung. Với cách báo hiệu này, mỗi số sẽ được đại diện bởi một xung dài ngắn khác nhau. Cách này áp dụng cho điện thoại có vòng quay (xưa rồi). Khi bạn quay số 9 có xung sẽ dài hơn quay số 1, lúc đó tổng đài sẽ biết bạn cần quay số mấy.

Tín hiệu mang thông tin (Information Signaling)

Sự kết hợp giữa các âm báo sẽ biết trạng thái của cuộc gọi đang thực hiện. Mỗi tần số và các mẫu tương ứng với trạng thái khác nhau của cuộc gọi. Dưới đây là bảng biểu thị sự kết hợp đó, và những trạng thái cơ bản:

clip_image007

  • Dial tone: Cho biết điện thoại sẳn sàng thực hiện cuộc gọi và nhận cuộc gọi
  • Busy: Điện thoại trong trạng thái bận
  • Ringback: Cho biết tổng đài đang cố gắng thực hiện cuộc gọi
  • Congestion: Mạng bị tắt nghẽn
  • Reorder tone: Cho biết tất cả các đường mạng nội bộ đang bận, không thể nhận cuộc gọi vào. Cái này giống như bạn gọi đến tổng đài tư vấn dịch vụ, có âm báo lại rằng “tất cả các tổng đài viên đang bận”
  • Receiver off hook: Thông báo điện thoại đã ở trạng thái Off Hook thời gian dài mà không thực hiện cuộc gọi đi
  • No such number: Tình trạng người dùng gọi một số điện thoại không tồn tài.
  • giang

    Video rất là hữu ích, cảm ơn bạn!